Tiêu điểm



Nội dung hoạt động chính

 

 

 

 

 

 

Tuyển dụng

 

Tuyển chuyên gia dự án


 

 

Đăng nhập trang nội bộ



Đột phá chính sách nông nghiệp, nông thôn và nông dân trong giai đoạn hiện nay
 Chính sách trao quyền tự chủ kinh doanh (bắt đầu từ Khoán 10) đã cho phép nông dân tiếp cận với đất đai và các tài nguyên khác như rừng, biển, mặt nước... và chính sách tự do hoá thương mại và đầu tư, đặc biệt đầu tư mạnh về thuỷ lợi đã tạo cú hích ban đầu cho nền nông nghiệp hàng hoá: từ chỗ thiếu đói và khủng hoảng lương thực trong những năm cuối thập kỷi 70, đầu thập kỷ 80 của thế kỷ trước, chúng ta đã vươn lên đủ ăn và trở thành nước đứng thứ nhì thế giới về xuất khẩu gạo, đứng vào một trong những nước hàng đầu thế giới về xuất khẩu các nông phẩm nhiệt đới như cà phê, cao su, hạt tiêu, điều... và gần đây, xuất khẩu thuỷ sản cũng chiếm vị trí cao. Tuy nhiên, về cơ bản, sản xuất nông nghiệp nước ta còn phát triển thiếu bền vững, manh mún và tự phát, kém sức cạnh tranh và chưa đủ tầm đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế. Yêu cầu bức thiết hiện nay là nhanh chóng chuyển từ nền nông nghiệp trình độ thấp sang trình độ cao. Điều đó đòi hỏi phải có bước đột phá về chính sách để giải quyết các mâu thuẫn và rào cản phát triển, đưa nền nông nghiệp truyền thống chuyển sang quỹ đạo hàng hoá và thị trường hiện đại; thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn, tạo ra nền nông nghiệp giá trị cao và chất lượng cao dựa trên việc ứng dụng phổ biến các thành tựu khoa học công nghệ và phát triển bền vững.

1. Đột phá trong khâu quy hoạch, quản lý việc sử dụng, tích tụ đất đai nông nghiệp

Trước hết, đất đai là tư liệu sản xuất cơ bản và không thể thay thế của nông nghiệp cũng như các hoạt động kinh doanh nói chung; Khoán 10 trước đây đã đột phá vào khâu trọng yếu - giao quyền sử dụng ruộng đất ổn định cho nông dân (trong thời hạn 20 - 30 hoặc 50 năm). Nhưng có thể thấy, “quyền sử dụng” những thửa ruộng nhỏ bé, manh mún này của người nông dân là thứ quyền chưa đầy đủ, hơn nữa đang trở nên mong manh, yếu ớt trước cơn bão thị trường và hội nhập. Trong khi đó, công tác quy hoạch, quản lý và sử dụng đất nông nghiệp đang nổi cộm như một vấn đề bức xúc và nan giải: người dân vùng đô thị hoá mất đất canh tác lại càng trăn trở băn khoăn, không ít địa phương nảy sinh các khiếu kiện về đất đai và là “ngòi nổ” gây mất ổn định chính trị - xã hội.

Điều này chưa từng diễn ra trong cơ chế kế hoạch hoá trước đây, khi đất đai toàn bộ thuộc về Nhà nước, không phải là hàng hoá. Một nghịch lý là: công nghiệp hóa, đô thị hoá càng diễn ra mạnh mẽ thì đất nông nghiệp càng bị thu hẹp, vấn đề người dân mất đất, không có công ăn việc làm và trở nên nghèo khó càng phổ biến. Theo số liệu chính thức thì chỉ trong 5 năm (2001-2005) cả nước đã thu hồi tổng diện tích đất nông nghiệp 366, 44 ngàn ha (chiếm 3,89% đất nông nghiệp đang sử dụng). Trong đó, diện tích đất đã thu hồi cho xây dựng khu công nghiệp (KCN) là 39, 56 ngàn ha, xây dựng đô thị là là 70, 32 ngàn ha và xây dựng hạ tầng là 136, 17 ngàn ha(1).

Tuy tỷ lệ thu hồi đất nông nghiệp tại các tỉnh không cao, nhưng lại tập trung vào một số địa phương có mật độ dân số đông, có xã mất tới 80% đất canh tác. Đáng nói là đa số diện tích bị quy hoạch đều thuộc đất ven lộ, đất mầu mỡ, đất trồng lúa 2 vụ. Trong thời kỳ năm 2000-2005, tổng diện tích trồng lúa cả nước đã giảm từ 4, 47 xuống 4, 13 triệu ha, bình quân mỗi năm giảm 50.000 ha. Trong đó, có diện tích thu hồi xong để hoang hoá nhiều năm (quy hoạch treo), có diện tích dùng làm sân golf (tới cả hàng chục vạn ha), có diện tích làm công nghiệp hay khu vui chơi giải trí… Nhìn chung, có thể gọi tình trạng này là “bê tông hoá” đất nông nghiệp vĩnh viễn. Đó thực sự là việc làm thiếu tính toán và tầm nhìn quy hoạch dài hạn, tiềm ẩn nguy cơ mất an ninh kinh tế, chính trị, xã hội.

Mặt khác, phải thấy rằng, Khoán 10 đem chia nhỏ ruộng đất giao cho hộ gia đình là bước thụt lùi trở về kinh tế tiểu nông (nếu so với kinh tế hàng hoá). Hiện cả nước có trên 10 triệu hộ nông dân với khoảng 70 triệu thửa ruộng, tính bình quân mỗi hộ có từ 3-8 thửa (2). Với quy mô sản xuất nhỏ bé, manh mún như vậy thì người nông dân chỉ có thể đảm bảo đủ ăn và thực hiện tái sản xuất giản đơn; khả năng ứng dụng khoa học công nghệ (KHCN), thâm canh và tăng năng suất cây trồng, vật nuôi theo hướng kinh tế hàng hoá là rất hạn hẹp. Hơn nữa, việc người dân nuôi trồng cây gì, con gì thì vẫn theo thói quen và mang tính tự phát. Ví dụ, thấy cà phê, mía đường, cá basa, tôm sú…được giá thì người dân đổ xô đi phá rừng trồng cà phê, trồng mía, nạo vét ao đầm nuôi cá, tôm. Nhưng qua một vài vụ khi thị trường thay đổi, bị rớt giá và ép giá, người dân lại tự phá bỏ để quay về lối canh tác cũ. Đây là tình trạng chuyển dịch cơ cấu vòng tròn, thiếu quy hoạch và thiếu tính bền vững, gây hủy hoại môi trường và lãng phí các nguồn lực.

Mặc dù nước ta là cường quốc xuất khẩu gạo, nhưng còn nhiều vấn đề cần bàn. Ngoài việc phải bảo đảm cung ứng gạo về mặt chất lượng, chiếm lĩnh thị trường vững chắc thì việc duy trì đủ số lượng gạo xuất khẩu và quy mô diện tích trồng lúa ổn định cũng đang đặt ra. Bài toán an ninh lương thực bị đe dọa bởi các lý do: đất trồng lúa bị thu hẹp rất nhanh như đã nói; dân số nước ta còn tăng lên (dự báo 100 triệu người vào năm 2020) đồng thời với nhu cầu tăng về các loại ngũ cốc cho các mục tiêu chăn nuôi và công nghiệp (thậm chí ta đang phải nhập nguyên liệu làm thức ăn gia súc); cuối cùng, chính người nông dân không còn thiết tha với ruộng đồng và sản xuất lúa gạo vì lợi nhuận quá thấp. Nếu để nông dân tự phát di cư ra thành thị làm ăn và thiếu biện pháp quản lý để thúc đẩy tích tụ ruộng đất, tăng quy mô sản xuất cho những hộ nông dân ở lại sẽ dẫn tới tình trạng: nông thôn bị “nữ hoá”, lao động nông nghiệp trở nên khan hiếm và giá nhân công trở nên đắt đỏ, chăn nuôi và nghề phụ giảm sút, nông nghiệp chuyển từ thâm canh sang quảng canh, suy giảm đa dạng nông nghiệp (3).

Trong giai đoạn 1997-2006, năng suất lúa tăng bình quân 2,06%, tương đương 770.000 tấn /năm, nhưng từ năm 2003-2007, tổng sản lượng lúa chỉ dao động ở mức 36 triệu tấn do suy giảm mạnh diện tích; sản lượng gạo xuất khẩu cũng có xu hướng giảm qua các năm trở lại đây: 2005 xuất khẩu 5, 2 triệu tấn, 2006 xuất khẩu 4, 65 triệu tấn, 2007 xuất khẩu xấp xỉ 4, 5 triệu tấn và năm 2008 dự kiến cũng chỉ xuất khẩu 4, 5 triệu tấn. Như vậy, hình thành mức trần về sản lượng lương thực nếu không có đột phá về năng suất nhờ giống mới và thâm canh. Vì thế, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã đề xuất các giải pháp, có tăng cường quản lý đất đai, kiên quyết giữ cho được 3, 9 triệu ha đất trồng lúa loại tốt. Tuy nhiên, để bảo đảm ưu thế cạnh tranh trong xuất khẩu gạo cần giải quyết tiếp hai khâu then chốt: chất lượng và năng suất trồng lúa. Cả hai khâu này đều liên quan tới giới hạn đầu tư và quy mô hộ nông dân trồng lúa. Có thể nói, đã đến lúc chúng ta cần cả gói chính sách tổng thể bảo đảm sự phát triển bền vững ngành nông nghiệp nói chung, có sản xuất lúa gạo, nhằm hai mục tiêu chiến lược: đảm bảo an ninh lương thực và xuất khẩu.

Do đó, cần nhanh chóng có quyết sách đột phá khâu công tác quy hoạch, quản lý việc sử dụng, tích tụ đất đai nông nghiệp cả nước theo hướng:

- Hạn chế tối đa lấy đất nông nghiệp trồng lúa và cây lương thực cho mục đích công nghiệp và đô thị hoá. Nếu lấy, phải tính tới chi phí cơ hội giữa đất trồng lúa, đất đồi gò và đất hoang hoá cho phát triển công nghiệp - dịch vụ. Nghiên cứu ban hành sắc thuế đánh vào việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp đủ mạnh để ngăn chặn việc lấy đất trồng lúa làm công nghiệp và đô thị hoá quá dễ dãi như hiện nay.

- Việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp ở quy mô tương đối lớn, (ví dụ: hàng chục, hàng trăm ha) cần phải được Quốc hội cho phép (như Trung Quốc). Cần xây dựng, ban hành và giám sát chặt chẽ việc thực hiện quy hoạch sử dụng đất đai nông nghiệp trên cả nước một cách căn cơ, ổn định lâu dài. Muốn vậy, công tác quy hoạch phải có căn cứ khoa học và thực tiễn, có quan điểm toàn diện và tầm nhìn xa: a) kiên quyết giữ các vùng đất tốt, trước hết là hai vùng Đồng bằng sông Hồng rộng 0, 8 triệu ha và Đồng bằng sông Cửu Long rộng 2, 5 triệu ha (nhưng đáng tiếc đã bị chia nhỏ). Phải hiểu văn minh lúa nước của người Việt gắn với các đồng bằng trù phú này, nó là văn hoá chứ không chỉ là kinh tế; b) khi sử dụng chúng vào mục đích kinh tế phải tính tới hệ quả xã hội và môi trường. Nếu giả định làm KCN cũng phải bóc tách giữ lại lớp đất màu trên bề mặt; c) quy hoạch sử dụng đất từng, vùng từng địa phương cũng phải tuân theo nguyên tắc chung, tránh lấy vào vùng trọng điểm lúa và đảm bảo hài hoà về kinh tế - xã hội - môi trường.

- Quan điểm về chính sách đền bù đất nông nghiệp hiện cũng chưa thấu đáo, triệt để. Nên hiểu “đền bù” không đơn giản là một khoản tiền nhất định. Đây là sự triệt tiêu một kế sinh nhai, một phương thức canh tác, cho dù lạc hậu đi nữa. Hơn nữa, nó còn thể hiện thái độ, trách nhiệm của xã hội, Chính phủ và doanh nghiệp về các mặt tổ chức kinh tế, xã hội, việc làm và đời sống cho người dân. Bắt buộc có phương án đền bù hợp lý và bố trí công ăn việc làm, đào tạo chuyển đổi nghề cho nông dân. Khuyến khích doanh nghiệp sử dụng lao động tại địa phương, ví dụ, nếu sử dụng từ 100 lao động được hỗ trợ 50% kinh phí đào tạo nghề.

Có thể tính tới các phương án đền bù khác nhau: đền bù bằng tiền và trả phí đào tạo nghề, nhận người vào làm tại các doanh nghiệp lấy đất, nông dân góp đất vào doanh nghiệp coi như cổ phần hoặc cho doanh nghiệp thuê đất (như trường hợp Nhà máy Mía đường Lam Sơn và thôn Xuân Hoà - xã Thọ Xuân). Nghiên cứu dành lại quỹ đất cần thiết nhằm chuyển đổi nghề và kinh doanh dịch vụ cho hộ nông dân mất đất; đền bù có phân biệt giữa lấy đất cho an ninh - quốc phòng, công trình công cộng với lấy đất cho sản xuất kinh doanh và dịch vụ.

Về nguyên tắc, đền bù thoả đáng và cân bằng giữa các lợi ích Nhà nước - doanh nghiệp - nông dân. Thu hẹp khoảng cách chênh lệch giữa mức đền bù giải phóng mặt bằng và mức đấu giá đất làm đô thị - dịch vụ. Giả định mức giá đền bù giải phóng mặt bằng khi thu hồi đất là 1; doanh nghiệp sau khi lấy đất, chuyển đổi mục đích sử dụng và xây dựng hạ tầng đô thị - dịch vụ đem đấu thầu cho các nhà đầu tư thứ cấp với mức giá là 20; Nhà nước sẽ dùng công cụ thuế và phí điều tiết lại thu nhập, ví dụ, theo công thức 4:5:11, tức Nhà nước hưởng 4 phần, nông dân hưởng 5 phần, doanh nghiệp hưởng 11 phần trong toàn bộ mức chênh lệch giá (tổng mức tăng giá).

- Khuyến khích chuyển đổi hay mua bán đất nông nghiệp nhằm tích tụ ruộng đất, mở rộng quy mô sản xuất nông nghiệp; cấm mua bán để chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp. Nới rộng mức hạn điền và thời hạn giao quyền sử dụng đất nông nghiệp lên tới 50-100 năm, bảo hộ kinh doanh nông nghiệp để người dân an tâm đầu tư lâu dài. Hiện nay Nhà nước đã cho các doanh nghiệp trong nước và nước ngoài thuê đất tới 50-100 năm, vậy không có lý do để hạn chế nông dân.

Trường hợp người dân chuyển sang nghề khác hay không muốn (không có điều kiện) canh tác, có thể sang nhượng hay Nhà nước đứng ra mua và cho thuê lại nhằm duy trì quỹ đất nông nghiệp, thúc đẩy tích tụ ruộng đất trong nông thôn.

2. Đột phá trong chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, nông thôn

Mặc dù đạt được thành tựu nổi bật trong thời gian qua (như tăng trưởng về diện tích, quy mô, sản lượng, chủng loại các sản phẩm nông nghiệp, thậm chí nhiều nông sản được xuất khẩu sang thị trường các nước với kim ngạch và thị phần lớn) nhưng về căn bản, cơ cấu nông nghiệp chưa có thay đổi về chất, chủ yếu chúng ta vẫn xuất nông sản dưới dạng thô hoặc sơ chế, hàm lượng dinh dưỡng thấp, giá trị hàng hoá so với các sản phẩm cùng loại trên thị trường bị thua thiệt. Giá gạo xuất khẩu của nước ta thường tháp hơn so với gạo của Thái Lan, giá cà phê xuất khẩu cũng thấp hơn so với cà phê Braxin.

Ở đây, ngoài lý do thương hiệu và kênh phân phối, tiếp thị yếu kém thì có vấn đề trong khâu chọn lọc giống, chủng loại và cải tiến chất lượng, đầu tư cơ giới hoá sản xuất, công nghệ chế biến và bảo quản sau thu hoạch. Kết quả là giá trị nông sản hàng hoá trên một đơn vị diện tích (ha gieo trồng) cũng như năng suất của lao động nông nghiệp nước ta rất thấp. So sánh ở các nước, một lao động nông nghiệp có thể cung cấp nông phẩm cho 6, 7, 8 thậm chí 20, 30, 40 người làm phi nông nghiệp; Mỹ chỉ có chưa tới 2% dân cư nông nghiệp trên tổng dân số 240 triệu người; Hà Lan có 4 triệu ha đất nông nghiệp nhưng xuất khẩu nông phẩm tới 17 tỷ USD /năm, đạt bình quân giá trị xuất khẩu 4 triệu USD /ha đất canh tác. Còn ở chúng ta, mỗi lao động nông nghiệp chỉ cung cấp nông phẩm cho 2 - 3 người và đang phấn đấu xây dựng cánh đồng 30 - 50 triệu đồng. Nếu nhìn từ khía cạnh khác, có thể thấy chúng ta đang khai thác phí phạm và thiếu trách nhiệm, thiếu bền vững những nguồn tài nguyên tự nhiên quý giá và không thể tái tạo cho mai sau.

Do đó, tất yếu phải chuyển dịch cơ cấu theo hướng xây dựng nông nghiệp công nghệ cao, giá trị cao. Để làm điều đó, cần chú trọng đầu tư nghiên cứu và khuyến khích chuyển giao, sử dụng các kết quả khoa học công nghệ (KHCN) trong nông nghiệp, nhất là công nghệ cao và công nghệ sinh học. Trong suốt mấy chục năm qua, nền nông nghiệp nước ta chủ yếu phát triển theo mô thức truyền thống, dựa chủ yếu vào hai yếu tố chính sách và thể chế (Khoán 10 và hợp tác xã nông nghiệp), còn KHCN chưa thực sự trở thành động lực mạnh mẽ cho tăng trưởng. Ngày nay, nếu không kịp thời gắn đổi mới cơ chế chính sách và thể chế với tiến bộ KHCN trong nông nghiệp sẽ triệt tiêu phát triển. Hoặc là chính chúng ta sẽ tự trói buộc mình trong những giới hạn chật hẹp và đánh mất khả năng cạnh tranh trước các đối thủ tiềm tàng.

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp không nên hiểu chỉ là áp dụng các tiến bộ của công nghệ thông tin, tự động hoá…vào chăn nuôi, trồng trọt; hơn thế, còn là thay đổi bản thân quy trình và công nghệ, quy luật sinh học, tạo ra các giống cây con ngắn ngày, cho năng suất, chất lượng cao, có khả năng chống chịu thời tiết khắc nghiệt và kháng bệnh. Như vậy, một nền nông nghiệp công nghệ cao cũng đồng nghĩa với giá trị cao, bảo đảm sức cạnh tranh, thân thiện với môi trường và phát triển bền vững. Nếu không áp dụng công nghệ cao thì không thể có những cánh đồng cà chua, rau sạch nuôi trồng thậm chí không cần đất mà vẫn cho năng suất 300-400 tấn /ha/năm. Các nước như Đài Loan, Israen, Đức, Nhật Bản là những ví dụ thực tế cho thấy, hiệu quả đem lại của nền nông nghiệp công nghệ cao, giá trị cao không thua kém so với nền công nghiệp công nghệ cao.

Để phát triển nền nông nghiệp công nghệ cao, giá trị cao, trước tiên chúng ta cần tập trung giải quyết các khâu vốn và thị trường đầu ra. Đương nhiên, quy mô kinh tế hộ không có khả năng giải quyết những vấn đề này, mà chỉ có thể là những doanh nghiệp hay tổ chức kinh tế có tiềm lực. Thứ nữa, cần lựa chọn bước đi và loại hình công nghệ cao cho phù hợp với điều kiện của ta. Cuối cùng, cần có chính sách đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng tốt đội ngũ các nhà khoa học trong lĩnh vực công nghệ cao.

Một trong những hướng KHCN cần tập trung là ưu tiên phát triển ngành công nghệ sinh học. Chúng ta sẵn có những nguyên liệu quý như mía, sắn, ngô, khoai… dùng cho công nghệ sinh học; thậm chí những chất xơ tưởng như bỏ đi (cellulose) như rơm rạ, lau sậy, mùn cưa… được đường hoá nhờ vi sinh vật để tạo ra cồn nhằm thay thế cho các dạng năng lượng dầu mỏ, than đá, khí đốt đã cạn kiệt. Các nông sản làm ra không chỉ thoả mãn nhu cầu về lương thực, thực phẩm. Rất nhiều sản phẩm giàu đường và tinh bột có thể còn được dùng làm nguyên liệu cho một ngành công nghiệp đem lại lợi nhuận cao, đó là sản xuất các sản phẩm mới của công nghệ sinh học, các sản phẩm phục vụ công nghiệp dược, công nghiệp thực phẩm, công nghiệp dầu khí, công nghiệp môi trường. Ví dụ, từ bột sắn chế biến thành tinh bột biến tính như cồn khô, lớp thấm hút trong tã lót trẻ em…; Công ty Vedan đã xây dựng nhà máy sản xuất axit amin vào loại lớn nhất thế giới tại Đồng Nai, giúp cho nông dân trồng sắn năng suất cao và tận thu nguyên liệu sắn với giá cả cao (4).

Vấn đề nghiên cứu, phát triển cơ giới hoá khâu canh tác, công nghệ chế biến sau thu hoạch nhằm giảm nhẹ lao động nặng và nâng cao năng suất, gia tăng hàm lượng dinh dưỡng và giá trị hàng hoá, để bảo quản sản phẩm lâu dài cũng cần được quan tâm. Trong khi ta có nhiều bột cá, đậu tương, ngô hạt…nhưng vẫn phải nhập khẩu làm thức ăn chăn nuôi; nhiều nông sản vốn là thế mạnh của ta nhưng khi xuất khẩu bị ép giá hoặc trả lại vì không đạt yêu cầu. Phải chăng vì công nghệ chế biến yếu nên giá thành cao, quy cách và chất chất lượng sản phẩm chưa đồng đều, chưa đảm bảo sạch? Gần đây, một số nông dân các địa phương tự phát mầy mò, sáng chế ra máy lựa đậu, cà phê, tuốt ngô, lúa, gieo hạt, thu hoạch mùa màng…cũng nói lên nhu cầu công nghiệp hóa nông nghiệp từ cuộc sống đã chín muồi, bức xức đến nhường nào. Vấn đề chỉ còn thiếu một chính sách, chủ trương sát hợp và cơ chế cụ thể cho sự kết hợp lợi ích giữa các “nhà”: nhà nông - nhà khoa học - nhà đầu tư.

Trước mắt, cần khẩn trương nghiên cứu, chọn lọc và hoàn thiện Bộ giống chuẩn quốc gia về các cây lương thực chủ yếu. Thật vô lý khi Việt Nam là nhà xuất khẩu gạo lớn nhưng vẫn phụ thuộc giống từ bên ngoài như của Trung Quốc, Thái Lan. Theo các chuyên gia, trong tình hình thế giới khủng hoảng lương thực kéo dài, chúng ta nên tập trung vào nghiên cứu, phát triển các giống lúa cao sản, ngắn ngày, chịu được hạn hán thiên tai và kháng rầy… để cạnh tranh về số lượng và giá rẻ với gạo Thái Lan chất lượng cao nhưng năng suất thấp, giá thành đắt (5). Ngoài lúa, cũng cần hoàn thiện bộ giống các cây lương thực, thực phẩm khác phù hợp với điều kiện Việt Nam.

Ở đây, việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ và thương mại hoá các kết quả nghiên cứu, phát minh về giống cũng như trong lĩnh vực nông nghiệp nói chung, hình thành và phát triển thị trường KHCN sẽ có tác dụng đòn bẩy mạnh mẽ trên các phương diện: gắn KHCN với sản xuất, thúc đẩy KHCN và chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp. Trường hợp nhà nông học Nguyễn Thị Trâm chuyên theo đuổi nghiên cứu và phát minh các dòng lúa lai chất lượng cao cho nền nông nghiệp nước nhà là ví dụ sinh động (6).

Chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp sẽ là chưa đủ nếu không gắn với chuyển dịch cơ cấu lao động - việc làm nông thôn. Hiện Việt Nam chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp tuy có tiến bộ, giá trị nông nghiệp so với GDP cả nền kinh tế từ 26,62% năm 1995 xuống 20,4% năm 2006; nhưng chuyển dịch cơ cấu lao động lại hết sức chậm trễ, có tới hơn 70% dân số làm nông nghiệp và 78% dân số vẫn sống dựa vào nghề nông (7). Mặt khác, việc dân cư tập trung trong nông nghiệp đang tạo bức xúc về mặt xã hội, nếu không xử lý thì đến lúc nào đó sẽ gây bùng phát, mất ổn định. Nó cũng đồng nghĩa miếng bánh nông nghiệp phải chia nhỏ ra cho nhiều người hay tình trạng thiếu việc làm, thu nhập thấp và nghèo khổ trong nông thôn.

Vì vậy, trách nhiệm của Nhà nước, nhà hoạch định chính sách là phải có chiến lược xử lý chủ động, tích cực vấn đề chuyển dịch cơ cấu lao động - việc làm trong nông thôn. Có các phương án khác nhau: chuyển dịch tuyệt đối - đưa nông dân vào làm công nghiệp, dịch vụ ở thành thị hoặc đi xuất khẩu lao động nước ngoài, xuất khẩu lao động trong nước (gia công và làm cho doanh nghiệp FDI), chuyển dịch tương đối - “ly nông bất ly hương”; mở ra ngành nghề dịch vụ kết hợp ngay trong nông thôn. Với bối cảnh mở cửa hiện nay, Việt Nam có thể và cần kết hợp cả bốn phương án sao cho hài hoà, uyển chuyển, đạt được hiệu quả kinh tế - xã hội cao nhất. Nhưng cần chuẩn bị tốt các điều kiện và phối hợp các hoạt động liên ngành, xã hội hoá công tác chuyển dịch này: đào tạo và chuẩn bị tốt tri thức, nghề nghiệp cho thế hệ trẻ nông thôn để đón bắt cơ hội việc làm; đàm phán và thực hiện quản lý nhà nước đối với hoạt động xuất khẩu lao động để bảo vệ lợi ích người lao động; khuyến khích phát triển công nghiệp - dịch vụ theo cả hai hướng: sử dụng công nghệ cao và sử dụng công nghệ vừa, công nghệ sử dụng nhiều lao động; phát triển các trung tâm, khu công nghiệp lớn kết hợp với mở mang các khu công nghiệp nhỏ và vừa, các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại vùng đông dân cư nhằm thu hút sử dụng nhiều lao động nông thôn.

Đặc biệt, có cơ chế thông thoáng về thủ tục hành chính (chuyển đổi, tách, sáp nhập, quản lý hộ khẩu và cấp chứng minh thư); cơ chế sang nhượng, cho thuê, chuyển đổi, tích tụ ruộng đất, kể cả góp đất hoặc Nhà nước đứng ra mua lại quyền sử dụng đất. Nhiều trường hợp, nông dân không thể ra đi chỉ vì ràng buộc vào mảnh ruộng không biết xử lý thế nào: bỏ thì thương, vương thì tội! Như thế, hình thành một thị trường lao động và đất đai được quản lý chặt chẽ, linh hoạt sẽ thúc đẩy phân công, CDCC lao động nói chung, cũng như CDCC lao động nông thôn nói riêng.

3. Đột phá về thị trường và nâng cao sức cạnh tranh của hàng hoá nông sản; hoàn thiện các thể chế lưu thông, nhất là đối với lưu thông lúa gạo

Gia nhập WTO, thách thức lớn nhất của hàng hoá nông sản Việt Nam là bị tác động mạnh của các cuộc thương lượng mậu dịch mang tầm quốc tế (như vòng đàm phán Urugoay, Đôha), phải cạnh tranh quyết liệt với các sản phẩm tương tự của các nước thành viên WTO trên cả thị trường trong và ngoài nước. Theo cam kết, mức thuế đối với sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam sẽ là 21% và giảm dần trong 3-7 năm. Quan trọng hơn, sản phẩm của Việt Nam bắt buộc phải có chứng chỉ an toàn vệ sinh, điều rất khó khăn cho các nhà sản xuất Việt Nam vốn xưa nay quen làm theo kiểu truyền thống. Phương thức canh tác nông nghiệp lạc hậu, năng suất thấp và chi phí cao, chất lượng và quy cách sản phẩm không đồng đều, công nghiệp chế biến chưa phát triển, lại chưa được chuẩn bị kỹ về thương hiệu và quảng bá tiếp thị… cũng là những khó khăn cho sức cạnh tranh của hàng nông sản Việt Nam. Bên cạnh, việc thiếu kênh thông tin về các đối tác và thị trường khiến nhiều nhà xuất khẩu nông sản Việt Nam bị loại ngay từ đầu, làm cho cánh cửa xuất khẩu nông sản càng thu hẹp.

Vì vậy, chúng ta phải nhanh chóng khắc phục những hạn chế của xuất khẩu hàng nông sản: cải tiến chất lượng và tăng sức cạnh tranh; hoàn thiện kênh thông tin và nội dung thông tin; làm tốt công tác xây dựng thương hiệu và quảng bá tiếp thị; nuôi dưỡng và mở rộng thị trường, củng cố thị trường truyền thống, đặc biệt cần đột phá mạnh vào các thị trường lớn và có tiềm năng như EU, úc, Nhật Bản, Mỹ, Châu Phi. Trách nhiệm này không thể phó thác riêng cho doanh nghiệp - những nhà sản xuất, chế biến riêng lẻ, mà là trách nhiệm chung và cần phối hợp hoạt động hiệu quả của toàn bộ hệ thống xuất nhập khẩu, các hiệp hội, ngành hàng, trước tiên là trọng trách đặt lên vai Nhà nước, các Bộ chuyên ngành và cơ quan hoạch định chiến lược quốc gia. Các tổ chức, doanh nghiệp cũng như cơ quan Chính phủ cần hoạt động tích cực và chuyên nghiệp, phối hợp nhịp nhàng.

Đặc biệt, những cú sốc giá lúa gạo và hàng hoá gần đây cho thấy hệ thống các thể chế điều hành vĩ mô và thể chế thương mại cần thiết của chúng ta còn rất yếu và thiếu, chưa bắt kịp với yêu cầu của hội nhập và thị trường hiện đại. Thể hiện phản ứng chính sách thiếu nhạy bén và chậm chạp, lạc hậu trước diễn biến thị trường, ngay cả thị trường trong nước; không điều hành thống nhất được kênh thu mua phân phối, thậm chí bỏ trống cho tư thương lũng đoạn, ép giá hay nâng giá tuỳ tiện; yếu thế và thiếu kinh nghiệm trong đàm phán với đối tác nước ngoài nên ký hợp đồng với những điều kiện bất lợi trong khi nông dân và người sản xuất là “gốc” lại không được đảm bảo lợi ích và phải chịu rủi ro.

Đơn cử, lạm phát và chỉ số CPI tăng cao như thời gian qua đã tác động mạnh tới hộ nông dân nghèo, thu nhập thấp, đối tượng chịu thiệt nhiều nhất bởi: nhóm hàng lương thực - thực phẩm tăng khá cao chiếm tới 70% trong cơ cấu tiêu dùng của hộ gia đình nghèo; mặt khác, tốc độ tăng giá các sản phẩm đầu ra bình quân 20-30% thì giá cả vật tư đầu vào của sản xuất nông nghiệp (như phân bón, thuốc trừ sâu, điện, xăng dầu, thức ăn chăn nuôi…) lại tăng cao hơn nhiều (bình quân 40-50%). Trong khi giá gạo xuất khẩu là 1000 USD /tấn thì đáng lẽ giá lúa thu mua tối thiểu cũng phải là 8000 đ/kg, nhưng thực tế giá mua tại Đồng bằng sông Cửu Long chỉ là 5400 đ/kg, phần thua thiệt rõ ràng thuộc về người nông dân và phần lợi nhuận chủ yếu rơi vào tay thương lái (các chủ vựa lúa). Tổng giá trị sản phẩm cà phê xuất khẩu trên thị trường thế giới là 10 USD trong khi người trồng cà phê chỉ được hưởng 1, 5 USD. Như vậy, người nông dân chịu thiệt đơn thiệt kép, không thể phát triển bền vững ngành hàng nông sản.

Do vậy, chúng ta cần xây dựng và hoàn thiện các thể chế điều hành vĩ mô và tổ chức tốt các thể chế lưu thông thị trường để điều tiết hoạt động xuất nhập khẩu thông suốt. Trong ngành hàng lúa gạo, chí ít cần kiện toàn các tổ chức và thể chế cơ bản sau đây: a) hộ nông dân trồng lúa; b) các kênh đại lý thu mua lúa gạo; c) hợp tác xã hay Hiệp hội những người sản xuất lúa gạo; d) Nhà nước và cơ quan quản lý điều hành xuất nhập khẩu lúa gạo. Các tổ chức này tương tác và chế ước lẫn nhau, mà Nhà nước là trung tâm (đề ra luật chơi và điều hành, kiểm tra, giám sát). Trong bối cảnh giá gạo tăng cao, nhiều ý kiến cho rằng Nhà nước nên chuyển việc điều tiết bằng hạn ngạch hiện nay sang điều tiết bằng thuế xuất nhập khẩu, sẽ có lợi cho người sản xuất và ổn định được thị trường gạo trong nước.

4. Hỗ trợ có hiệu quả cho nông dân

Rõ ràng, nông dân luôn là người chịu thiệt và yếu thế trong cơ chế thị trường. Điều này còn bởi bản chất thị trường là cạnh tranh, kẻ mạnh sẽ mạnh lên và kẻ yếu càng yếu đi, cuối cùng kẻ mạnh sẽ thắng kẻ yếu. Bản thân sản xuất nông nghiệp cũng hàm chứa rủi ro cao vì biến động giá cả và thời tiết, đầu tư cho nông nghiệp mang lại lợi nhuận thấp nên ít hấp dẫn. Nhưng sản xuất và sản phẩm nông nghiệp là bắt buộc không thể thiếu đối với xã hội. Tại các nước công nghiệp phát triển, người ta rất quan tâm và có điều kiện tài chính để trợ cấp, bảo hộ mạnh cho nông nghiệp. Sự thật, các nước này luôn dựng lên hàng rào bảo hộ và trợ cấp ở mức cao cho hàng nông sản của mình, điều đó gây khó khăn, thiệt hại cho hàng nông sản của chúng ta khi thâm nhập vào thị trường các nước.

Với chúng ta, vì nghèo và cũng có thể vì chưa nhận thức rõ điều này, nên hỗ trợ cho nông nghiệp và nông dân bị xem nhẹ. Tham gia vào WTO, dự báo lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn của chúng ta sẽ chịu nhiều tác động xấu do năng lực cạnh tranh và trình độ sản xuất thấp như đã nêu trên. Đã qua một năm mặc dù nông nghiệp vẫn trụ được trước áp lực WTO, nhưng về lâu dài thì nông nghiệp Việt Nam phát triển không bền vững, nông dân sẽ đuối sức trước dòng xoáy hội nhập. Đặc biệt, trong bối cảnh kinh tế thế giới lâm vào khủng hoảng và kinh tế trong nước suy giảm hiện nay, hỗ trợ và kích cầu cho khu vực nông nghiệp - nông thôn càng cần được quan tâm. Nhà nước cần có chương trình và lộ trình hỗ trợ cho nông nghiệp và nông dân dài hơi, bài bản và căn cơ, để họ không chỉ chống chọi được mà còn mạnh dần lên, thích ứng với những điều kiện, môi trường cạnh tranh mới toàn cầu.

Tuy nhiên, hỗ trợ cần đúng nguyên tắc của WTO. WTO cho phép trợ cấp cho nông nghiệp (trừ trợ cấp xuất khẩu) có thể lên đến 10% GDP của ngành, thì chúng ta có thể dành khoản tiền không nhỏ 1, 2 tỷ USD (so với 12 tỷ USD giá trị hàng nông sản) + 4000 tỷ đồng (từ ngân sách) = 20.000 tỷ đồng hỗ trợ cho nông nghiệp (8). Hiện chúng ta hỗ trợ cho nông nghiệp còn quá ít, không đáng kể, chưa tạo ra được bước đột phá mạnh trong phát triển nông thôn. Dường như chúng ta rơi vào thái cực: thay vì lo tìm nguồn lực hỗ trợ chuyển sang lo rằng WTO cấm hỗ trợ. Thật ra, WTO không cấm hỗ trợ nói chung, chỉ cấm những trợ cấp bóp méo giá cả và thị trường; chỉ khi nào hàng xuất khẩu ra thị trường nước ngoài gây thiệt hại nghiêm trọng cho ngành tương tự của nước nhập khẩu, các sản phẩm hưởng trợ cấp này mới bị áp thuế đối kháng. Phạm vi, khả năng hỗ trợ còn rất lớn. Vấn đề là phải xác định đúng trọng điểm cần hỗ trợ, hỗ trợ đủ liều lượng và sử dụng hỗ trợ hiệu quả. Nên xã hội hoá và đa dạng hoá các nguồn lực hỗ trợ, có kiểm tra, giám sát chặt chẽ sát sao, bảo đảm hỗ trợ đến đúng đối tượng, nhất là có nghiệm thu, tiếp nhận từ chính người được thụ hưởng (nông dân và các địa phương).

Nên tập trung hỗ trợ cho phát triển hạ tầng kỹ thuật và thuỷ lợi, mở mang giao thông nông thôn; đào tạo và nâng cao dân trí, chuyển dịch lao động nông thôn; nghiên cứu, chuyển giao và ứng dụng khoa học công nghệ (giống mới, kỹ thuật và công cụ mới, phương pháp canh tác mới); trợ cấp cho điều chỉnh cơ cấu sản xuất nông nghiệp; trợ cấp chi trả cho các chương trình môi trường để hỗ trợ cho vùng khó khăn, chi trả trực tiếp cho người sản xuất, trợ cấp chi phí tiếp thị, vận chuyển trong nước và quốc tế... Hỗ trợ để thu hẹp khoảng cách thu nhập và mức sống giữa nông thôn và thành thị thông qua các chương trình “điện - đường - trường - trạm”... cũng cần được chú ý, hiện khoảng cách này ở nước ta đang có xu hướng gia tăng (xấp xỉ 2, 6 lần so với Trung Quốc 3, 6 lần).

Ngoài ra, hỗ trợ của Nhà nước cần xác định là chất xúc tác để kích thích và phát huy hiệu quả các khoản đầu tư của các thành phần kinh tế vào nông nghiệp. Mặc dù nông nghiệp hiện còn chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu kinh tế quốc dân và chiếm đa số dân cư, nhưng đầu tư của Nhà nước vào ngành này mới chiếm 14% tổng đầu tư ngân sách. Đầu tư của doanh nghiệp FDI cũng còn khiêm tốn ở mức 10,6% các dự án FDI và 6,5% tổng vốn đăng ký; hơn nữa, chủ yếu là các nhà đầu tư đến từ châu á, trong khi các cường quốc nông nghiệp như Mỹ, úc, Canađa... vẫn vắng bóng (9). Đầu tư cho khoa học công nghệ trong nông nghiệp ở ta còn quá thấp, chỉ chiếm 0,13% GDP của ngành, trong khi ở các nước là 4%(10). Nếu phấn đấu cải thiện nâng dần tỷ lệ đầu tư này lên chí ít gấp rưỡi, gấp đôi sẽ rất có ý nghĩa với sự nghiệp phát triển nông nghiệp và nông thôn.

(1)      Điều tra 16 tỉnh của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

(2)      Diện tích đất canh tác tính bình quân của nước ta thấp nhất thế giới 0,12 ha/người, thấp hơn Thái Lan 0,3 ha/người và chỉ cao hơn Hàn Quốc, Băngladet, Aicập.

(3)      Điều tra 8 xã Đồng bằng sông Hồng, Đông Nam Bộ, Đồng bằng sông Cửu Long năm 2006 cho thấy, hầu hết các địa phương không còn lao động dưới 40 tuổi; riêng tỉnh Thái Bình có 45% lao động đã rời khỏi nông nghiệp, 200.000 người đi là ăn xa, chỉ còn lại phụ nữ và người già. Theo số liệu Hội thảo “Người dân nông thôn trong quá trình CNH” mới đây, hàng năm chúng ta mất 70.000 ha thuộc vùng trồng lúa được xây dựng hạ tầng thuỷ lợi tốt để làm công nghiệp, kéo theo 7000 tỷ đồng đã đầu tư thuỷ lợi bị lãng phí. Tỉnh Bắc Ninh sau khi thu hồi ruộng đất, chỉ có 5-6% người tìm được việc làm; còn lại 94% người thất nghiệp (Báo Giáo dục & Thời đại số 86 ngày 17/07/2008: Để người nông dân không chối bỏ thôn quê).

(4)      Nguyễn Lân Dũng: Tạp chí Hồn Việt, thứ ba, 6/5/2008.

(5)      Võ Tòng Xuân: Hạn chế xuất khẩu gạo, nông dân thiệt. Vietnamnet. Ngày 4/4/2008.

(6)      PGS.TS Nguyễn Thị Trâm nguyên là cán bộ giảng dạy Trường đại học Nông nghiệp I hiện nghỉ hưu, đã gặt hái được nhiều thành công trong nghiên cứu chuyển giao các dòng lúa lai năng suất cao, phẩm chất tốt được nông dân ưa chuộng: trước đây, như giống lúa NN -9, NN-10, NN-23, NN-75-6, DH60, nếp thơm 44, 256; sau đó, lúa lai hai dòng mới như TH -3-4, TH3-5, TH3-11, TH5-1, TH6-3, TH2-3. Gần đây bà đã cho ra đời giống lúa lai hai dòng 100% “made in VN” TH3-3 và chuyển nhượng cho Công ty TNHH Cường Tân (Nam Định) với mức giá kỷ lục 10 tỷ đồng. Nhưng trước khi đưa ra chuyển nhượng, để ở nhà thì mỗi năm bà cũng thu về hàng tỷ đồng nhờ bán giống. TH3 -3 là giống lúa lai cho năng suất cao 6-8 tấn /ha với thời gian sinh trưởng ngắn 105-125 ngày, chiụ được mọi loại đất trên mọi địa hình, chống chịu sâu bệnh, chất l­îng g¹o tr¾ng th¬m ngon dÎo.

    
TS. Hoàng Xuân Nghĩa - Viện nghiên cứu phát triển kinh tế - xã hội Hà Nội